2- Sổ tiêm chủng cơ bản cho trẻ em (A2.1/CSYT) A2.1/CSYT. SỔ TIÊM CHỦNG CƠ BẢN CHO TRẺ EM. U. ốn ván Hib Bại liệt S. ở. i Rubella VNNB TCĐĐ Số mũi UV mẹ tiêm Trẻ được bảo vệ phòng UVSS Ghi chú U. V. 1 UV 2 UV 3 UV 4+ Hib 1 Hib 2 Hib 3+ OPV 1 OPV 2 OPV 3 OPV 4+ IPV 1 IPV 2 IPV 3 IPV 4+ Đủ mũi Theo thống kê, lao hạch ở người lớn chiếm 20% số trường hợp lao ngoài phổi và 13% ở trẻ lao, ở trẻ em lao hạch chiếm 13% trong các thể lao. Lao hạch có thể thấy ở hạch ngoại biên bao gồm hạch cổ, nách, bẹn và ở nội tạng như trung thất, mạc treo, nhưng lao hạch ngoại Người ta cũng ước tính ở trẻ em có khỏang 1,5 triệu ca mới và 500.000 chết mỗi năm. Số liệu đáng tin cậy cho thấy là 25 đến 30% tránh khỏi tử vong và như vậy bệnh Lao có một tỷ lệ bệnh và một tỷ lệ tử vong cao nhất trong tất cả các bệnh nhiễm trùng. Một dạng bệnh do Mycobacteria khác, còn gọi là Mycobacterium atypique có thể là Bệnh lao ở trẻ thường lây qua đường hô hấp với các triệu chứng ho, khó thở… Ngoài ra, trẻ còn có thể bị lây bệnh ở trường học, nhà trẻ, khu đông dân cư… Việc chẩn đoán lao, tìm ra vi khuẩn lao ở trẻ em thường khó hơn so với người lớn vì triệu chứng lâm sàng thường mờ nhạt nên dễ bị nhầm với các bệnh lý khác. Những thể bệnh lao ở trẻ thường gặ Các u thận trẻ em ở người lớn ( Wilms) Các di căn từ nơi khác đến. Các u lành tính: U mạch - cơ - mỡ, u hạch , u mỡ, u xơ… Di căn của ung thư thận. Tại chỗ u có thẻ xâm lấn bao thận, tổ chức mỡ quanh thận, xâm lấn vào tổ chức cơ quan lân cận. 60% lao sơ nhiễm ở trẻ em có hạch to rốn phổi. 40% có hạch quanh khí quản, 80% dưới carena. Có thể hạch ở 1 hoặc nhiều vị trí. Đơi khi có thể gặp hình ảnh đơng đặc phổi ở 1 thùy hoặc phân thùy (do hạch chèn ép), hoặc tràn dịch màng phổi. NSgKi. Lao hạch ở trẻ em là một thể lao nằm ngoài phổi với các vị trí nổi hạch hay gặp như hạch cổ, hạch bẹn, hạch nách. Bệnh không lây nhiễm và không gây tử vong. Khi trẻ nhỏ bị nhiễm trùng hoặc dị ứng, hạch sẽ có kích thước lớn. Vậy trẻ nhỏ bị lao hạch phải làm sao? Trẻ nhỏ bị lao hạch có sao không? Khi xuất hiện triệu chứng lao hạch này diễn ra nghiêm trọng như hạch có kích thước lớn hơn 2,5 cm, hoặc trên 1,2 cm nhưng tồn tại lâu hơn 1 tháng bé phụ huynh cần theo dõi đặc biệt và hãy đưa trẻ đi khám ngay. Triệu chứng khi trẻ nhỏ bị lao hạch Hạch xuất hiện tự nhiên mà bé không rõ hạch bắt đầu có hay to lên từ lúc nào Hạch sưng to dần mà không gây đau, với mật độ chắc, bề mặt nhẵn Vùng da hạch sưng to không nóng, không tấy đỏ Thường có nhiều hạch cùng một chỗ bị sưng, cái to cái nhỏ không đều nhau tập hợp thành 1 chuỗi Có khi chỉ gặp một hạch đơn độc sưng to vùng cổ vùng cổ, không đau, không nóng, không đỏ Nguyên nhân khiến trẻ nhỏ bị lao hạch Trực khuẩn lao có thể xâm nhập trực tiếp vào đường bạch huyết qua thương tổn lao ở niêm mạc miệng, hoặc từ một tổn thương bình thường do sang chấn, nhiễm khuẩn. Trực khuẩn lao qua niêm mạc miệng đi vào đường bạch huyết lao hạch tiên phát. Ngoài ra, trực khuẩn lao có thể gây viêm hạch nhiều chỗ. Cách điều trị lao hạch cho trẻ nhỏ Nếu phát hiện bé có những triệu chứng như trên, không được tự ý dùng thuốc hay các phương pháp truyền miệng để tự chữa cho bé. Hãy đến ngay các cơ sở y tế để được bác sĩ tư vấn, bác sĩ có thể điều trị bằng một số phương pháp như là[elementor-template id="263870"] Khi hạch sưng tấy đỏ, có mủ và có khả năng vỡ sẽ tiến hành chích rạch dẫn lưu mủ để tránh sẹo xấu sau này. Trường hợp lao hạch ở trẻ em với hạch có kích thước quá to, gây chèn ép vào tổ chức xung quanh như mạch máu, thần kinh thì cần được tiến hành mổ hạch. Dinh dưỡng cho trẻ nhỏ bị lao hạch Cho trẻ uống nhiều nước và ăn các loại thức ăn dạng lỏng như cháo, súp, canh Cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho cơ thể. Đồng thời, bổ sung rau, trái cây, nước ép vào thực đơn hằng ngày. Cách phòng ngừa trẻ nhỏ bị lao hạch Các bậc phụ huynh hãy đưa trẻ đi tiêm phòng vắc xin BCG theo chương trình tiêm chủng mở rộng Giữ gìn sức khỏe cho trẻ, cho trẻ ăn đủ chất để chống suy dinh dưỡng Giữ gìn môi trường sống tốt, nhà cửa thoáng đãng, sạch sẽ Trong gia đình có người bị lao thì nên cách ly trẻ, không nên tiếp xúc gần gũi với trẻ Qua những thông tin Medplus đã tổng hợp, mong rằng sẽ giúp các bố mẹ giải đáp thắc mắc về trẻ nhỏ bị lao hạch phải làm sao? Trẻ nhỏ bị lao hạch có sao không và những lưu ý bố mẹ cần biết. Medplus hy vọng các bố mẹ đã có thêm những kiến thức cần thiết để chăm sóc trẻ sơ sinh tốt nhất. Đừng quên ghé thăm hàng ngày để cập nhật những thông tin mới nhất về sức khỏe bạn nhé. Xem thêm các bài viết Trẻ sơ sinh bị khô da có sao không? Những điều bố mẹ cần biết Trẻ sơ sinh bị nấc cụt có sao không? Những điều bố mẹ cần biết Trẻ sơ sinh bị sôi bụng có sao không? Những điều bố mẹ cần biết Trẻ sơ sinh bị thở khò khè có sao không? Những điều bố mẹ cần biết Trẻ sơ sinh bị thở gấp có sao không? Những điều bố mẹ cần biết Trẻ sơ sinh bị vẹo cổ có sao không? Những điều bố mẹ cần biết Trẻ sơ sinh bị lác mắt có sao không? Những điều bố mẹ cần biết Nguồn Tổng hợp Hiện nay, chẩn đoán bệnh lao ở trẻ em còn gặp nhiều khó khăn do triệu chứng không đặc trưng và các xét nghiệm cận lâm sàng phát hiện vi khuẩn lao với tỷ lệ thấp. Điều trị trẻ bị bệnh lao cần được tiến hành đúng phác đồ điều trị và càng sớm càng tốt. 1. Tổng quan về bệnh lao ở trẻ em Lao ở trẻ em không phải là một bệnh hiếm gặp trên lâm sàng. Số ca trẻ bị bệnh lao mỗi năm chiếm khoảng 15% tổng số các ca mới. Trẻ bị bệnh lao có thể có biểu hiện của mọi thể lao tương tự như ở người lớn, tuy nhiên phổ biến nhất là lao sơ nhiễm, lao phổi, lao màng phổi, lao màng não cấp tính và một số thể lao ngoài phổi như lao xương, lao màng bụng, lao hạch, lao ruột ... Mỗi thể lao có những biểu hiện lâm sàng khác nhau, xảy ra ở những độ tuổi khác nhau, mức độ nặng thay đổi phụ thuộc vào cơ địa của trẻ bị bệnh lao, đáp ứng điều trị và lượng vi khuẩn gây đối tượng dễ mắc bệnh là các trẻ nhỏ chưa tiêm vắc-xin phòng bệnh lao. Tần suất mắc bệnh lao ở trẻ em giảm dần theo tuổi nhờ đáp ứng miễn dịch tạo ra sau khi tiêm phòng đầy đủ. Cần ghi nhớ rằng, cơ thể trẻ cần có thời gian đáp ứng để sản xuất kháng thể bảo vệ, vì thế sau khi cho trẻ tiêm phòng, phụ huynh không được chủ quan và cần bảo vệ trẻ khỏi những yếu tố nguy cơ hay nguồn lây nhiễm bệnh lao. Vắc-xin tiêm phòng bệnh lao BCG Triệu chứng lâm sàng thường thấy khi trẻ bị bệnh lao là sốt và ho kéo dài trên 10 ngày, ăn uống kém, sụt cân, dễ quấy khóc và một số biểu hiện đặc trưng có từng cơ quan bị ảnh hưởng. Vì biểu hiện tương tự như những bệnh lý khác, phụ huynh thường chủ quan, tự ý điều trị tại nhà khiến việc nhận diện và điều trị bệnh lao bị chậm trễ cũng như tăng tỷ lệ lây nhiễm cho cộng đồng. Trẻ bị bệnh lao trên 5 tuổi có khả năng lây nhiễm cao hơn vì thực hiện được các động tác khạc nhổ, giải phóng vi khuẩn ra môi trường bên ngoài. Bệnh lao ở trẻ em nếu không được điều trị sớm có thể dẫn đến nhiều biến chứng nặng nề cho trẻ như biến dạng cột sống, điếc, mù, động kinh, liệt hay thậm chí tử vong, tùy theo từng thể lao và biến chứng của nó. Bệnh lao ở trẻ em là bệnh có thể dự phòng được và tiêm vắc-xin phòng bệnh lao là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất. 2. Một số thể lao ở trẻ em Lao sơ nhiễmĐây là thể lao thường gặp nhất, nhất là ở nhóm các trẻ dưới 5 tuổi và không được tiêm vắc-xin phòng bệnh lao. Lao sơ nhiễm thường không biểu hiện triệu chứng lâm sàng hoặc chỉ có các dấu hiệu thoáng qua như sốt nhẹ kèm mệt mỏi. Biểu hiện lâm sàng mơ hồ khiến lao sơ nhiễm tuy phổ biến trong cộng đồng nhưng rất dễ bị bỏ sót. Tiền sử tiêm chủng không đầy đủ là dấu hiệu gợi ý rất có giá trị, giúp phát hiện bệnh lao ở trẻ trong nhiều trường hợp. Một số trẻ bị bệnh lao sơ nhiễm có thể tự khỏi nếu sức đề kháng tốt. Lao sơ nhiễm thường xảy ra ở nhóm trẻ dưới 5 tuổi Lao màng nãoĐây là một thể lao cấp tính nặng nề, tiến triển từ lao sơ nhiễm khi vi khuẩn lao lan tràn theo đường máu đến hệ thần kinh trung ương. Biến chứng của lao màng não thường nghiêm trọng và tồn tại kéo dài trong suốt phần đời còn lại của trẻ như động kinh, kiệt, chậm phát triển trí tuệ, thậm chí có thể tử vong. Trẻ bị lao màng não có các triệu chứng rầm rộ, xuất hiện sau khi mắc lao sơ nhiễm khoảng vài ngày đến vài tháng, bao gồm sốt cao, nhức đầu, cứng cổ, có giật, rối loạn vận nhãn, co giật, động kinh ...Lao phổiCùng với lao màng phổi, đây là thể lao đường hô hấp thường gặp ở nhóm trẻ lớn hơn 5 tuổi, nhất là những trẻ đang ở trong giai đoạn dậy thì. Trẻ bị bệnh lao phổi có thể thứ phát sau lao sơ nhiễm hoặc lây trực tiếp do tiếp xúc với những người thân trong gia đình mắc bệnh lao. Lao phổi sau lao sơ nhiễm thường mất nhiều tháng mới xuất hiện triệu chứng. Biểu hiện lâm sàng của lao phổi ở trẻ có nhiều điểm tương đồng với bệnh lao ở người lớn như sốt nhẹ về chiều, sụt cân, ho đờm kéo dài có thể có máu, tức ngực. Quy trình chẩn đoán bệnh lao phổi ở trẻ em được thực hiện bằng việc kết hợp giữa các phương tiện chẩn đoán hình ảnh và xét nghiệm tìm vi khuẩn lao trong đàm hoặc dịch dạ dày trong 3 mẫu được lấy cách nhau ít nhất 1 ngày bằng soi tươi và nuôi cấy tìm vi ngoài phổiĐây là biến chứng thường xảy ra muộn nhất sau lao sơ nhiễm. Lao ngoài phổi rất đa dạng với nhiều thể khác nhau như lao cột sống, lao hạch, lao màng bụng, lao tiết niệu, lao ruột ... Trẻ có thể mắc cùng lúc nhiều thể lao ngoài phổi khác nhau hoặc đồng mắc lao phổi và lao ngoài phổi. Triệu chứng lâm sàng phong phú tùy thuộc vào cơ quan bị ảnh hưởng. Đau và biến dạng cột sống gặp trong lao cột sống. Sưng đau tinh hoàn và tiểu máu gặp trong lao cột sống. Sưng hạch nhiều vị trí trong cơ thể có ở lao hạch. Lao cột sống khiến người bệnh bị chấn thương và cong vẹo cột sống 3. Dấu hiệu nhận biết trẻ bị bệnh lao Triệu chứng lâm sàng ở trẻ bị bệnh lao thường rất phong phú và biến thiên. Trẻ bị bệnh lao có thể có những biểu hiện rõ, rầm rộ trong những thể lao cấp tính như lao màng não và lao kê. Ngược lại trẻ mắc lao sơ nhiễm lại có những biểu hiện lâm sàng rất mơ hồ hoặc thậm chí không có bất kỳ dấu hiệu gợi ý nào. Lao phổi và lao màng phổi có các biểu hiện gợi ý liên quan đến các tổn thương tại đường hô hấp như ho, khạc đờm máu, tức ngực, khó thể lao ngoài đường hô hấp có những biểu hiện khác nhau tùy từng cơ quan bị ảnh hưởng. Tóm lại, triệu chứng lâm sàng của bệnh lao đa dạng nhưng không đặc hiệu, và rất dễ nhầm với các bệnh lý khác. Việc tiêm phòng không đầy đủ và tiền sử có tiếp xúc với những người nghi mắc bệnh lao hoặc bị bệnh lao là những yếu tố có tính chất gợi ý và định hướng có giá trị trong việc nhận diện và chẩn đoán bệnh lao ở trẻ em. 4. Chẩn đoán lao ở trẻ em Chẩn đoán chính xác các trường hợp trẻ bị bệnh lao cần dựa vào các xét nghiệm cận lâm sàng thay vì các biểu hiện lâm sàng của bệnh không đặc trưng, dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác. Mẫu bệnh phẩm từ đàm, dịch tiết hô hấp hoặc dịch dạ dày hay những bệnh phẩm từ các cơ quan nghi ngờ khác được đem đi soi tươi và nuôi cấy tìm vi khuẩn lao. Mẫu bệnh phẩm phải được lấy đủ 3 lần ở 3 ngày khác nhau liên tục. Khi xét nghiệm dương tính, chẩn đoán bệnh lao ở trẻ em được xác định. Xét nghiệm bệnh phẩm chẩn đoán lao ở trẻ Tỷ lệ tìm thấy vi khuẩn lao khi thực hiện xét nghiệm không cao. Chụp phim XQ phổi được chỉ định khi nghi ngờ trẻ mắc thể lao phổi hoặc lao màng phổi. Các tổn thương của bệnh lao trên phim chụp phổi có thể bao gồm các tổn thương dạng nốt, đám thâm nhiễm, các hang ở đỉnh phổi và các tổn thương tại màng phổi. 5. Các phương pháp điều trị bệnh lao ở trẻ em Nguyên tắc điều trị bệnh lao ở trẻ em tương tự như việc điều trị bệnh lao ở người lớn. Phác đồ điều trị phối hợp giữa các thuốc kháng lao trong thời gian dài chiếm vai trò chính. Thời gian điều trị để đạt hiệu quả kéo dài khoảng 6 đến 9 tháng liên tục. Thuốc uống phải được sử dụng đúng liều và tuân thủ theo phác đồ của bác sĩ. Hiệu quả của việc điều trị bệnh lao ở trẻ em phụ thuộc nhiều vào giai đoạn bệnh. Bệnh lao ở trẻ em được phát hiện sớm, khi chưa có biến chứng hoặc chưa lây lan đến các hệ cơ quan khác có tiên lượng tốt nhi tại hệ thống Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là địa chỉ tiếp nhận và thăm khám các bệnh lý mà trẻ sơ sinh cũng như trẻ nhỏ dễ mắc phải sốt virus, sốt vi khuẩn, viêm tai giữa, viêm phổi ở trẻ,... Với trang thiết bị hiện đại, không gian vô trùng, giảm thiểu tối đa tác động cũng như nguy cơ lây lan bệnh. Cùng với đó là sự tận tâm từ các bác sĩ giàu kinh nghiệm chuyên môn với các bệnh nhi, giúp việc thăm khám không còn là nỗi trăn trở của các bậc cha hàng có thể trực tiếp đến hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc để thăm khám hoặc liên hệ hotline TẠI ĐÂY để được hỗ đề xuất Vì sao cần tiêm phòng Lao cho trẻ sơ sinh XEM THÊM Bệnh lao kháng thuốc có chữa được không? Lao kháng thuốc xảy ra khi nào và có nguy hiểm? Lao phổi đã điều trị khỏi có thể tái phát không? Nhận kết quả giải phẫu bệnh ung thư vú giai đoạn sớm, chị Hân quyết định phẫu thuật với hy vọng còn cơ hội về nhà để chăm sóc các bé. Chị Trần Ngọc Hân 51 tuổi, Sóc Trăng cho biết cách đây 3 năm phát hiện cả hai vú có u lành tính, được điều trị bằng hút chân không VABB tại một bệnh viện ở TP HCM, sau đó, tái khám định kỳ mỗi 6 tháng. Một tháng nay, thỉnh thoảng, chị thấy hai bên vú lại đau. Nhiều người khuyên chị đắp lá cây, uống thuốc nam... sẽ ít tác dụng phụ, lại rẻ tiền. Tuy nhiên, chị quyết định đến bệnh viện khám để được điều được thạc sĩ, bác sĩ Huỳnh Bá Tấn khoa Ngoại Vú, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM thăm khám các vùng của hai bên vú. Khi khám ở vùng vú trái, bác sĩ cảm nhận một mảng có mật độ hơi chắc hơn xung quanh. Nghi ngờ có bất thường, bác sĩ chỉ định siêu âm và chụp nhũ ảnh để đưa ra kết luận chính xác. Bác sĩ Tấn dùng bút đánh dấu vào vị trí nghi ngờ để cảnh báo các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh chú ý kỹ hơn vào vùng ngoài dự đoán, siêu âm cho thấy có vùng xáo trộn cấu trúc, còn trên nhũ ảnh là đám vôi hóa lan tỏa tương ứng với vùng đã đánh dấu. Kết luận vú trái có tổn thương được xếp hạng BIRADS 4A. Bác sĩ Tấn giải thích, đây là những tổn thương có nguy cơ ác tính ở mức độ thấp. Cứ 100 người có kết quả khám vú theo phân loại BIRADS 4A chỉ có 2-10 người bị ung thư hội chẩn với siêu âm và nhũ ảnh, bác sĩ Tấn cho chỉ định chọc hút tế bào bằng kim nhỏ FNA dưới sự hướng dẫn của đầu dò siêu âm. Sau 24 tiếng, chị Hân nhận kết quả tổn thương dạng nhú, khả năng u ác tính là 20% và bác sĩ đề nghị mổ sinh thiết khối u để có chẩn đoán cuối cùng. Sau khi xem xét kết quả, bác sĩ xác định u nhú lành tính nhưng có kèm thành phần ung thư tại chỗ DCIS. Song nhờ bác sĩ mổ lấy đủ rộng xung quanh khối u nên rìa bệnh phẩm không còn tế bào ác tính. Thạc sĩ, bác sĩ Huỳnh Bá Tấn thứ 2 bên phải cùng êkíp bác sĩ khoa Ngoại Vú phẫu thuật cho người bệnh. Ảnh Nguyễn Trăm Bác sĩ Tấn giải thích, ung thư tại chỗ là ung thư giai đoạn 0, tiên lượng khỏi bệnh gần như 100%. Với ung thư vú giai đoạn này, người bệnh có hai lựa chọn điều trị là chiếu tia phóng xạ vào tuyến vú và hạch nách để phòng ngừa tái phát hoặc phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tuyến vú và sinh thiết hạch gác cửa. Sinh thiết hạch gác cửa là một kỹ thuật mới nhằm đánh giá chính xác hạch nách có bị di căn hay không, từ đó, bác sĩ mới quyết định nạo hạch nách để tránh biến chứng phù tay cho bệnh nhân. Kỹ thuật này không phải nơi nào cũng thực hiện được. Tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, các bác sĩ khoa Ngoại Vú thực hiện kỹ thuật này cho tất cả bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm để giảm biến chứng phù tay, tê tay, hạn chế vận động cánh tay cho bệnh muốn được điều trị sớm trở về chăm sóc các bé, chị chọn phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tuyến vú và sinh thiết hạch gác cửa. Dù được bác sĩ tư vấn tái tạo lại tuyến vú ngay trong cuộc mổ cắt bỏ vú để giữ lại nét đẹp hình thể nhưng chị từ chối vì muốn thời gian hồi phục nhanh kể, hơn 50 năm trước, chị bị người thân bỏ rơi trước cửa cơ sở chăm sóc trẻ em mồ côi. Lớn lên trong tình yêu thương của cộng đồng, chị càng yêu thương, đồng cảm với những bé mồ côi. Mỗi ngày, chị đều mong có sức khỏe để tiếp tục công việc chăm sóc các 10/5, trong cuộc phẫu thuật, bác sĩ lấy các hạch nách để gửi xét nghiệm ngay. Ê kíp tiếp tục cắt bỏ toàn bộ tuyến vú trái. Kết quả xét nghiệm cho thấy, hạch nách không di căn. Bệnh nhân không cần phải nạo hạch nách nên ít có rủi ro bị phù tay sau này. Với sự hỗ trợ của máy móc hiện đại, cuộc mổ hoàn thành trong một tiếng. Theo các bác sĩ, bệnh nhân được chẩn đoán kịp thời, điều trị sớm nên ít để lại di khi tỉnh dậy, chị vui mừng vì vẫn còn cơ hội về nhà với các con. Suốt hơn 20 năm nay, chị vừa làm mẹ, làm cha và là người thân của các bé bị bỏ rơi. Ru con những trưa oi ả, dỗ con khóc giữa đêm khuya, tập con nói những tiếng đầu đời... đều trở thành niềm vui, hạnh phúc của chị. Chị tâm sự công việc có vất vả nhưng nhìn các con trưởng thành, lớn lên mỗi ngày, chị lại có thêm động lực để cố bác sĩ Tấn, ung thư vú ở giai đoạn chưa có biểu hiện lâm sàng thường khó chẩn đoán nhưng điều trị thường nhanh chóng và thuận lợi. Hiệp hội Ung thư Mỹ dẫn chứng, người ung thư vú giai đoạn 0 được phát hiện sớm và điều trị kịp thời có tỷ lệ sống 5 năm gần 100%. Ngược lại, khi bệnh đã có biểu hiện trên lâm sàng, ví dụ như sờ thấy khối u trong vú thì chẩn đoán dễ nhưng quá trình điều trị phức tạp và lâu dài. Do đó, bác sĩ khuyên chị em phụ nữ nên đi tầm soát ung thư vú định kỳ hàng năm ở những cơ sở y tế có đầy đủ các phương tiện chẩn đoán hiện đại như siêu âm vú, nhũ ảnh, MRI An* Tên bệnh nhân đã được thay đổi.

mổ hạch lao ở trẻ em